1. Vị thế và vai trò chiến lược của Luật Thủ đô
Luật Thủ đô không chỉ đơn thuần là một văn bản quy phạm pháp luật, mà còn là "chìa khóa" thể chế để Hà Nội thực hiện sứ mệnh là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục và khoa học công nghệ. Luật Thủ đô đóng vai trò là công cụ pháp lý đặc thù, được ưu tiên áp dụng nhằm cụ thể hóa các chủ trương của Bộ Chính trị về phát triển Thủ đô, tạo ra các cơ chế vượt trội để Hà Nội phát huy tối đa tiềm năng vốn có.
Trong bối cảnh kỷ nguyên mới, Luật Thủ đô được xác định là Luật cơ bản, có tính chất dẫn dắt, giúp Thủ đô đóng vai trò hạt nhân và động lực tăng trưởng cho khu vực phía Bắc và cả nước. Việc thực thi hiệu quả Luật không chỉ là nhiệm vụ của riêng Hà Nội mà còn là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị nhằm bảo vệ và phát triển biểu tượng của quốc gia.
2. Những dấu ấn sau một năm thực thi
Sau hơn một năm triển khai quyết liệt với quyết tâm chính trị cao, công tác thi hành Luật Thủ đô đã đạt được những kết quả quan trọng, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho sự phát triển của Thành phố. Các cấp, các ngành đã nghiêm túc, khẩn trương xây dựng và ban hành các kế hoạch, văn bản chỉ đạo để tổ chức triển khai, theo dõi thi hành Luật Thủ đô theo phạm vi ngành, lĩnh vực, địa phương mình quản lý. Các kế hoạch xác định rõ nội dung công việc, phân công trách nhiệm cụ thể, đảm bảo việc triển khai Luật Thủ đô được thực hiện thống nhất, xuyên suốt từ cấp Thành phố đến cơ sở.
- Hệ thống văn bản quy định chi tiết đồ sộ và kịp thời
Đến nay đã có 69 văn bản triển khai Luật Thủ đô được ban hành. Trong đó, Thành phố đã ban hành được 66 văn bản triển khai thi hành Luật Thủ đô (gồm 56 Nghị quyết quy phạm pháp luật, 06 Nghị quyết cá biệt của HĐND Thành phố, 03 Quyết định quy phạm pháp luật và 01 Quyết định cá biệt của UBND Thành phố). Trong số văn bản đã được ban hành có nhiều nghị quyết, quyết định quan trọng, có tác động sâu rộng đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của Thủ đô, như các quy định về công tác quản lý, phát triển đội ngũ công chức, viên chức; khai thác, quản lý các nguồn lực về đầu tư, quản lý tài sản công, đất đai, môi trường, các công trình văn hóa... đặc biệt là các quy định về phát triển khoa học công nghệ. Hiện nay, các sở, ngành Thành phố tiếp tục nghiên cứu, xây dựng 38 văn bản để trình ban hành, đồng bộ với việc nghiên cứu xây dựng Luật Thủ đô sửa đổi.
Quy trình soạn thảo được thực hiện chặt chẽ, có sự phản biện xã hội từ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và thẩm định kỹ lưỡng từ Sở Tư pháp, đảm bảo tính khả thi và phù hợp với thực tiễn.
Thành phố đã tổ chức hội nghị trực tuyến với hơn 600 điểm cầu cho 30.000 đại biểu, phát hành 40.000 cuốn tài liệu tuyên truyền và xây dựng các phóng sự chuyên đề để đưa luật đến gần hơn với nhân dân. Đồng thời, việc kiểm tra, khảo sát tình hình thi hành luật được thực hiện đa kênh, từ báo cáo hành chính đến việc tiếp nhận ý kiến qua ứng dụng iHanoi và mạng xã hội.
- Bảo đảm các điều kiện cho thi hành Luật Thủ đô và các văn bản hướng dẫn
Công tác đảm bảo các điều kiện thi hành Luật Thủ đô đã được UBND Thành phố, các ngành, các cấp trên địa bàn Thành phố quan tâm, bố trí kịp thời, đảm bảo cho việc tổ chức triển khai thi hành Luật hiệu quả, đúng trọng tâm. Tuy nhiên, việc triển khai thi hành Luật Thủ đô trong điều kiện tổ chức thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp từ ngày 01/7/2025 còn gặp những khó khăn nhất định, nhất là việc bố trí nguồn nhân lực thường xuyên, chuyên sâu, đặc biệt là ở cấp cơ sở (cấp xã).
- Tổ chức điều tra, khảo sát, thu thập, xử lý thông tin về tình hình thi hành Luật Thủ đô
Công tác kiểm tra, điều tra khảo sát việc thi hành Luật cơ bản được các cấp, các ngành triển khai nhằm kịp thời nắm bắt tình hình thực tiễn, đánh giá tác động của chính sách, tình hình thi hành Luật. Việc thu thập, xử lý thông tin về tình hình thi hành Luật Thủ đô được thực hiện đa kênh, có hệ thống từ Thành phố đến cơ sở. Các nguồn thông tin chính bao gồm: (1) Hệ thống báo cáo định kỳ, đột xuất của các cơ quan trong hệ thống hành chính; (2) Ý kiến, kiến nghị của người dân qua các buổi tiếp công dân, hội nghị đối thoại, sinh hoạt tổ dân phố; (3) Phản ánh qua các kênh kỹ thuật số như Cổng thông tin điện tử, ứng dụng iHanoi, đường dây nóng, mạng xã hội; (4) Kết quả từ hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát; (5) Thông tin từ các hội thảo khoa học, tọa đàm lấy ý kiến chuyên gia, nhà khoa học.
3. Những "điểm nghẽn" và thách thức thực tế
Dù đạt được nhiều kết quả tích cực, quá trình thi hành Luật Thủ đô vẫn bộc lộ những khó khăn cần được tháo gỡ.
Khó khăn trong tổ chức thực hiện: (1) Nhận thức chưa đồng bộ: Một số người đứng đầu cơ quan chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng và những ưu thế đặc thù của Luật Thủ đô để cụ thể hóa thành hành động; (2) Nguồn nhân lực: Đội ngũ cán bộ tham mưu xây dựng văn bản còn hạn chế về tư duy đổi mới, đôi khi còn tâm lý chần chừ, e ngại trong việc áp dụng các cơ chế đột phá; (3) Áp lực đô thị hóa: Tốc độ gia tăng dân số cơ học nhanh chóng tạo áp lực lớn lên hệ thống hạ tầng, làm giảm hiệu quả thực thi các quy định về quản lý đô thị; (4) Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật mặc dù đã được đẩy mạnh nhưng vẫn còn mang tính hình thức, chưa thực sự đi vào chiều sâu. Công tác kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật tuy đã được thực hiện nhưng chưa thường xuyên, quyết liệt, dẫn đến hiệu quả răn đe, phòng ngừa vi phạm còn hạn chế.
Vướng mắc từ quy định pháp luật: (1) Sự "phổ quát hóa" cơ chế đặc thù: Nhiều chính sách từng là đặc thù của Luật Thủ đô nay đã được các luật chuyên ngành khác (Luật Đầu tư công, Luật Đất đai...) cập nhật với mức độ thuận lợi hơn, làm mờ ranh giới ưu thế của Luật Thủ đô; (2) Việc sắp xếp lại các sở, ngành, đơn vị của Thành phố, thay đổi mô hình tổ chức chính quyền 02 cấp cũng đang ảnh hưởng lớn, trực tiếp đến nội dung, tiến độ xây dựng các văn bản quy định chi tiết Luật Thủ đô; (3) Thẩm quyền còn hạn chế: Mức độ phân quyền hiện tại chưa tương xứng với yêu cầu quản trị một đô thị đặc biệt. Hà Nội vẫn chưa có đủ thẩm quyền để chủ động thí điểm các mô hình mới trong chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo hay xử lý các vấn đề liên vùng như ô nhiễm môi trường; (4) Thiếu thiết chế điều phối vùng: Vai trò dẫn dắt của Thủ đô trong liên kết vùng vẫn chủ yếu dừng ở mức nguyên tắc, thiếu cơ chế ràng buộc và nguồn lực tài chính chung.
4. Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm
Những hạn chế trên xuất phát từ việc Luật Thủ đô chưa được thiết kế như một "luật khung đặc thù ổn định". Tư duy quản lý vẫn còn chịu ràng buộc bởi sự thống nhất theo pháp luật chung, chưa cho phép Thủ đô chủ động "thử nghiệm có kiểm soát" các chính sách mới; phân quyền trong Luật Thủ đô còn thận trọng, chủ yếu dừng ở việc giao thêm nhiệm vụ cho Thành phố, nhiều thẩm quyền quan trọng vẫn phải thực hiện theo quy định của các văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương, làm giảm tính chủ động, linh hoạt của chính quyền Thủ đô. Đồng thời, Luật Thủ đô chưa thiết lập cơ chế pháp lý cho phép Thủ đô chủ động thí điểm các cơ chế, chính sách khác luật hoặc chưa được luật quy định trong phạm vi kiểm soát rủi ro, khiến Thành phố khó triển khai các mô hình quản trị mới, phản ứng chính sách chậm trước các vấn đề mới, phức tạp của đô thị đặc biệt.
5. Giải pháp và định hướng sửa đổi
Sửa đổi Luật Thủ đô nhằm hoàn thiện thể chế đặc biệt, vượt trội, ổn định, có tầm nhìn dài hạn, phù hợp với vị trí, vai trò, tính chất riêng có của Thủ đô, trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, đóng vai trò hạt nhân và động lực tăng trưởng quan trọng của khu vực phía Bắc và cả nước. Đưa thể chế, pháp luật về Thủ đô trở thành lợi thế cạnh tranh khu vực và quốc tế, nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ cho phát triển, tạo dư địa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế "hai con số", hiện thực hóa Quy hoạch tổng thể Thủ đô. Để Luật Thủ đô thực sự là động lực phát triển, Thành phố đề xuất nhóm giải pháp toàn diện, hướng tới việc xây dựng Luật Thủ đô (sửa đổi).
Nâng cao hiệu quả thực thi hiện tại: Tiếp tục quán triệt, thay đổi nhận thức đối với người đứng đầu trong cơ quan, tổ chức, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của Thành phố, đặc biệt là cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo quản lý về ý nghĩa, tầm quan trọng, lợi thế của Luật Thủ đô; Tiếp tục rà soát, kiện toàn đội ngũ cán bộ pháp chế và tư pháp, khắc phục tình trạng làm việc kiêm nhiệm; Bố trí mục chi ngân sách riêng cho các nhiệm vụ trọng tâm triển khai Luật và đẩy mạnh hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ quản lý; tăng cường thanh tra công vụ, gắn trách nhiệm thi hành luật với người đứng đầu và xử lý nghiêm các trường hợp thiếu trách nhiệm.
Hoàn thiện pháp luật và cơ chế, chính sách: Tiếp tục rà soát toàn bộ danh mục các nhiệm vụ xây dựng văn bản quy phạm pháp luật triển khai thi hành Luật Thủ đô, tăng cường phối hợp liên ngành, chủ động rà soát, kịp thời phát hiện và xử lý các mâu thuẫn, chồng chéo giữa quy định của Luật Thủ đô với các văn bản pháp luật chuyên ngành; Rà soát, sửa đổi, bổ sung một số Nghị quyết của HĐND Thành phố quy định chi tiết thi hành Luật Thủ đô đã ban hành để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 02 cấp; Ưu tiên, đẩy nhanh tiến độ ban hành các Nghị quyết quy định chi tiết các cơ chế, chính sách mới, phức tạp, đặc biệt là các cơ chế về phát triển đô thị theo mô hình TOD, quản lý không gian ngầm, cải tạo, chỉnh trang đô thị.
* Đề xuất định hướng sửa đổi Luật Thủ đô
Thành phố đề xuất sửa đổi Luật với tinh thần "Trao quyền mạnh hơn – phân cấp toàn diện hơn – trách nhiệm rõ ràng hơn", tập trung vào 4 nhóm nội dung lớn: (1) Khẳng định địa vị pháp lý ưu tiên: Luật Thủ đô phải là luật cơ bản, được ưu tiên áp dụng khi có sự khác biệt với các luật ban hành sau; (2) Phân quyền toàn diện: Giao quyền chủ động cho Hà Nội trong quyết định tổ chức bộ máy, biên chế, tiền lương; giao quyền xây dựng, ban hành thể chế, chính sách, được trình Nghị quyết của Quốc hội, ban hành quy định chi tiết để thi hành các Luật, Nghị quyết của Quốc hội khác với quy định của Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương; được thí điểm về thể chế khác luật, nghị quyết của Quốc hội hoặc chưa được pháp luật quy định; chủ động trong cơ cấu thu chi ngân sách và phê duyệt dự án đầu tư lớn; (3) Quản trị, xây dựng, phát triển và bảo vệ Thủ đô: Đổi mới phương thức quản trị Thủ đô hiện đại dựa trên công nghệ số, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo (AI), Thành phố được chủ động ban hành cơ chế, chính sách, mô hình phát triển mới trong các lĩnh vực: khoa học và công nghệ, văn hóa, giáo dục đào tạo, y tế, an sinh xã hội, các chính sách, biện pháp lập, quản lý, thực hiện quy hoạch; (4) Thiết chế vùng thực chất: Thành lập Ủy ban điều phối phát triển Vùng và Quỹ phát triển vùng Thủ đô để xử lý các vấn đề liên kết hạ tầng và môi trường bền vững.
* Lộ trình thực hiện
Dự kiến dự án Luật Thủ đô (sửa đổi) sẽ được trình Quốc hội để triển khai quy trình thẩm tra, cho ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội trong tháng 3/2026 và trong tháng 4/2026 trình Quốc hội thông qua dự án Luật và tiếp thu, chỉnh lý hồ sơ dự án Luật trong kỳ họp. Việc hoàn thiện thể chế này sẽ là nền tảng vững chắc để Hà Nội thúc đẩy tăng trưởng kinh tế "hai con số" và hiện thực hóa quy hoạch tổng thể tầm nhìn 100 năm
Đào Nga