Theo Quyết định, Quy chế quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Thủ đô được ban hành kèm theo và có hiệu lực kể từ năm 2026. Đồng thời, các quy định trước đây gồm Quyết định số 05/2021/QĐ-UBND, Quyết định số 30/2021/QĐ-UBND và Quyết định số 13/2024/QĐ-UBND hết hiệu lực kể từ ngày Quyết định mới có hiệu lực (trừ các trường hợp chuyển tiếp được quy định cụ thể).
Lãnh đạo Thành phố Hà Nội và các đối tác ký kết hợp tác thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – nền tảng quan trọng để triển khai nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo Quy chế mới
Đối với các đề xuất nhiệm vụ hoặc nhiệm vụ đã được phê duyệt trước thời điểm Quyết định có hiệu lực, việc thực hiện tiếp tục tuân theo quy định của pháp luật hiện hành về khoa học và công nghệ theo nguyên tắc chuyển tiếp, bảo đảm tính ổn định, liên tục trong quản lý và triển khai.
Quy chế quy định cụ thể về:
- Quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Thủ đô theo quy định của Luật Thủ đô số 39/2024/QH15;
- Điều kiện, trình tự, thủ tục công nhận nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm của Thủ đô (kể cả đối với nhiệm vụ không sử dụng ngân sách Thành phố);
- Tiêu chí, tiêu chuẩn khung về chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng để thực hiện các chế độ, chính sách ưu đãi theo Nghị quyết số 34/2025/NQ-HĐND.
Quy chế áp dụng đối với cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ của thành phố Hà Nội; các sở, ban, ngành, UBND cấp xã; tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Thủ đô và các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Quy chế xác định rõ thẩm quyền quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước của Thành phố:
- Sở Khoa học và Công nghệ quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Thành phố;
- UBND cấp xã quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp xã;
- Tổ chức khoa học và công nghệ công lập thuộc Thành phố quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ cơ sở.
Việc phân cấp này nhằm tăng tính chủ động, linh hoạt, đồng thời nâng cao trách nhiệm của từng cấp, từng đơn vị trong tổ chức triển khai nhiệm vụ.
UBND Thành phố quy định các tiêu chí, yêu cầu cụ thể đối với từng loại nhiệm vụ, gồm:
- Nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản;
- Nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng;
- Nhiệm vụ phát triển công nghệ;
- Nhiệm vụ phát triển giải pháp xã hội;
- Nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm.
Đáng chú ý, đối với nhiệm vụ trọng điểm, yêu cầu phải có sản phẩm khoa học, công nghệ có giá trị cao như công bố quốc tế chất lượng, bằng độc quyền sáng chế, sản phẩm được thương mại hóa hoặc chính sách, giải pháp có tính đột phá được áp dụng thực tiễn, qua đó khẳng định vai trò dẫn dắt, tiên phong của khoa học và công nghệ trong phát triển Thủ đô.
Bên cạnh đó, Quy chế quy định chặt chẽ về:
- Căn cứ xây dựng kế hoạch đặt hàng, tài trợ nhiệm vụ;
- Trình tự đặt hàng, thông báo công khai trên Cổng thông tin điện tử;
- Thành lập Tổ chuyên gia rà soát, lựa chọn nhiệm vụ và xác định mức trần kinh phí;
- Thành lập Hội đồng tư vấn xét tài trợ, đặt hàng và Tổ thẩm định tài chính.
Nguyên tắc xuyên suốt là công khai, minh bạch, khách quan, bảo đảm liêm chính khoa học; đồng thời tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân có năng lực, kinh nghiệm tham gia thực hiện nhiệm vụ.
Quy chế cũng quy định rõ điều kiện đối với tổ chức chủ trì và cá nhân chủ nhiệm nhiệm vụ, đặc biệt là đối với nhiệm vụ trọng điểm, qua đó nâng cao chất lượng chuyên môn, hiệu quả và khả năng ứng dụng của kết quả nghiên cứu.
Các sinh viên nghiên cứu và thực hành trong môi trường khoa học
Một trong những điểm nhấn của Quy chế là yêu cầu các nhiệm vụ phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; có cam kết tiếp nhận, ứng dụng kết quả; có phương án thương mại hóa hoặc nhân rộng mô hình, giải pháp.
Việc ban hành Quy chế mới góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Thủ đô, tạo nền tảng thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thu hút nguồn lực xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học, công nghệ, từng bước đưa Hà Nội trở thành trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo hàng đầu của cả nước và khu vực.