Theo Kế hoạch, (1) các sở, ban, ngành và UBND xã, phường chủ động, tích cực quán triệt sâu rộng các quan điểm, mục tiêu về phòng ngừa, ứng phó với các đe dọa ANPTT đã được đề ra tại Nghị quyết số 147/NQ-CP. Cụ thể:
Quan điểm: Phòng ngừa, ứng phó với các đe dọa ANPTT là trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và của toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước.
Đồng thời, phải phù hợp với Chiến lược, Quy hoạch tổng thể quốc gia, Quy hoạch vùng, Quy hoạch Thủ đô về phát triển kinh tế - xã hội.
Kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ phòng ngừa, ứng phó với các đe dọa ANPTT trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Thực hiện tốt phương châm "ba chủ động" (phương án; con người; phương tiện); "bốn tại chỗ" (chỉ huy tại chỗ; lực lượng tại chỗ; vật tư, phương tiện tại chỗ; hậu cần tại chỗ), kết hợp với sự chi viện, hỗ trợ của Trung ương, phát huy mọi nguồn lực và trách nhiệm của cộng đồng, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước.
Tập trung phát triển kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, nông nghiệp công nghệ cao...
Nghiên cứu phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo là động lực chính để nâng cao năng lực phòng ngừa, ứng phó với các đe dọa ANPTT.
Mục tiêu cụ thể: Đến năm 2030, 100% địa bàn trọng điểm về các đe dọa ANPTT được bố trí hệ thống theo dõi, giám sát và cảnh báo sớm trong các lĩnh vực: địa chất, biến đổi khí hậu, môi trường, nguồn nước, năng lượng, y tế và phòng, chống tội phạm. Hình thành cơ sở dữ liệu liên quan các đe dọa ANPTT trong Trung tâm Dữ liệu quốc gia hướng đến hệ thống dữ liệu liên thông, đầy đủ, đồng bộ cả về chiều dọc (từ Trung ương xuống địa phương) và chiều ngang (liên bộ, liên ngành).
100% lực lượng trực tiếp ứng phó được huấn luyện, diễn tập sát thực tế, bảo đảm khả năng hoàn thành nhiệm vụ.
Hình thành quỹ phòng ngừa, ứng phó với các đe dọa này ở các cấp theo quy định của pháp luật với sự đóng góp của Nhà nước và xã hội.
Nghiên cứu, đề xuất hình thành một diễn đàn quốc tế thường niên do Việt Nam chủ trì, thu hút các học giả, chuyên gia quốc tế, quan chức chính phủ các nước trong khu vực và trên thế giới để thảo luận về hợp tác trong lĩnh vực này.
Tầm nhìn đến năm 2045: Cả hệ thống chính trị và toàn dân được phổ biến, nhận diện rõ các đe dọa ANPTT.
Trước năm 2045, có hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, phù hợp với luật pháp quốc tế.
Năng lực dự báo, cảnh báo sớm các đe dọa ANPTT tương đương các nước phát triển, trên cơ sở đội ngũ chuyên gia và hạ tầng kỹ thuật hiện đại, hệ thống dữ liệu liên thông, đầy đủ, đồng bộ.
Lực lượng tại chỗ ở cơ sở có khả năng ứng phó hiệu quả với các đe dọa ANPTT; hình thành lực lượng cơ động sẵn sàng tham gia hợp tác quốc tế.
Có đủ hệ thống cơ sở hạ tầng lưỡng dụng và khả năng thích ứng linh hoạt nhằm hạn chế tác động của sự cố ANPTT.
(2) Hình thành cơ chế điều hành, quản lý: Rà soát các Ban chỉ đạo hiện hành liên quan phòng ngừa, ứng phó với các đe dọa ANPTT, tiến tới tái cấu trúc theo hướng một cơ chế chỉ đạo, điều hành, điều phối các hoạt động từ Thành phố đến cơ sở, bảo đảm tính bao trùm, đồng bộ, tập trung, thống nhất, tinh gọn, hiệu quả; phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn trong điều phối các hoạt động phòng ngừa, ứng phó giữa các sở, ban, ngành, địa phương và giữa Thành phố với cơ sở theo quy định của Hiến pháp, pháp luật. Nghiên cứu kết nối Trung tâm dữ liệu quốc gia sau khi được hoàn thành với các trung tâm dự báo khí tượng thủy văn, trạm quan trắc, cảnh báo môi trường ô nhiễm, các trạm quan sát phòng không nhân dân của các lực lượng Quân đội đóng quân trên địa bàn, cổng thông tin điện tử của các sở, ban, ngành, địa phương phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cơ quan điều phối phòng ngừa, ứng phó với các đe dọa ANPTT.
(3) Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật: Chú trọng hoàn thiện các quy định pháp luật phù hợp với bối cảnh, tình hình mới, tập trung vào các lĩnh vực cơ bản như: Tình trạng khẩn cấp; phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia; bảo đảm an ninh mạng, an ninh thông tin, phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao; bảo vệ môi trường và ứng phó các thiên tai, năng lượng, tài chính - tiền tệ, lương thực, y tế, nhất là các tình huống y tế khẩn cấp (dịch bệnh, cứu nạn cứu hộ...).
Tiếp tục rà soát, hoàn thiện các chính sách xã hội góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa, ứng phó với các đe dọa ANPTT, như: chính sách giải quyết việc làm; chính sách giảm nghèo; chính sách tôn giáo, dân tộc; chính sách phòng, chống tội phạm... Ban hành các quy định việc thẩm định về bảo đảm yêu cầu an ninh, trật tự đối với các dự án phát triển kinh tế - xã hội trọng điểm, phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các cơ chế, chính sách đặc thù của Thủ đô.
Ban hành các chính sách khuyến khích doanh nghiệp đóng góp về khoa học, công nghệ. Xây dựng cơ chế liên kết các trường đại học, cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp để tiến hành các nghiên cứu chuyên sâu về các giải pháp công nghệ có tính khả thi và mang lại hiệu quả cao.
Kết hợp cả kênh thông tin truyền thông truyền thống, trên không gian mạng, cơ chế người phát ngôn, bảo đảm dễ dàng trao đổi và phản hồi. Công khai, minh bạch về các hoạt động phòng ngừa, ứng phó, bảo đảm thông tin truyền tải thống nhất, chính xác. Chủ động phòng ngừa, ứng phó với khủng hoảng truyền thông.
(4) Nâng cao năng lực dự báo chiến lược, hiệu quả quản lý nhà nước, quản trị quốc gia, kiểm soát rủi ro: Đẩy mạnh đầu tư, kết nối các trung tâm quản trị, dự báo tại các sở, ban, ngành, xã, phường tạo thành hệ thống mạng thông tin dự báo, cảnh báo, thông báo, báo động ứng phó các đe dọa này và kết nối, liên thông với hệ thống của toàn quốc. Có chính sách đặc thù hỗ trợ đổi mới sáng tạo, khuyến khích các sáng kiến mới trong công nghệ dự báo và quản lý rủi ro, hỗ trợ các nhóm nghiên cứu, doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển giải pháp nhằm nâng cao năng lực dự báo chiến lược.
Ứng dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), Internet vạn vật (IoT)... để nâng cao khả năng dự báo, giám sát và ứng phó.
Đẩy mạnh hợp tác công - tư, thu hút sự tham gia của khu vực tư nhân trong hoạt động phòng ngừa, ứng phó với các đe dọa ANPTT.
(5) Đẩy mạnh phát triển bền vững, tạo thế và lực vững chắc, huy động sức mạnh tổng hợp, toàn diện, toàn dân, xã hội hóa, tận dụng mọi nguồn lực: Xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn thân thiện với môi trường; quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên, nâng cao sức chống chịu, thích ứng trước các đe dọa ANPTT. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, các nguồn lực nội sinh, tự chủ.
Bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, giảm nghèo, phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh tạo nền tảng vững chắc cho việc ứng phó.
Tập trung xây dựng nguồn lực dự trữ có quy mô đủ mạnh, cơ cấu hợp lý, danh mục mặt hàng chiến lược, thiết yếu để sẵn sàng, chủ động đáp ứng hiệu quả các mục tiêu dự trữ quốc gia và ứng phó kịp thời với các đe dọa ANPTT xảy ra.
(6) Tăng cường công tác thông tin, truyền thông nâng cao nhận thức, kỹ năng; chủ động xây dựng kế hoạch, tổ chức tập huấn, diễn tập các kịch bản phòng ngừa, giảm nhẹ, cứu trợ, phục hồi, tái thiết và phát triển trong trường hợp, tình huống cụ thể:
Đa dạng hóa các kênh thông tin tuyên truyền. Triển khai có hệ thống chương trình, chiến dịch truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng về vấn đề ANPTT, phát huy vai trò định hướng nhận thức của báo chí, nhất là báo điện tử...
(7) Chú trọng nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng cho đội ngũ cán bộ: Thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện, cập nhật kiến thức, nâng cao kỹ năng ứng dụng khoa học, công nghệ mới cho đội ngũ cán bộ trực tiếp công tác trên các lĩnh vực ANPTT. Thường xuyên tổ chức diễn tập ứng phó với các kịch bản, tình huống khả thi, nâng cao khả năng, kỹ năng ứng phó, giải quyết với các đe dọa ANPTT.
Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù, dựa trên các yếu tố về lương, thưởng, môi trường làm việc, khả năng thăng tiến để thu hút nhân tài, nguồn nhân lực chất lượng cao.
(8) Đẩy mạnh chuyển đổi số kết hợp với nghiên cứu phát triển, nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại: Phát triển hạ tầng số, tạo lập hệ sinh thái số kết nối đa lĩnh vực, xây dựng nền tảng số dùng chung và số hóa cơ sở dữ liệu về các đe dọa ANPTT trên nền tảng cơ sở dữ liệu quốc gia.
(9) Tăng cường hợp tác quốc tế: Đẩy mạnh hợp tác song phương giữa Thủ đô Hà Nội với các địa phương của các nước phát triển để tranh thủ nguồn lực tài chính, khoa học, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, chia sẻ kinh nghiệm xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách phòng ngừa và ứng phó với các đe dọa ANPTT.